Chất lượng dịch vụ và mô hình kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử được nâng cấp khi tiêu chuẩn từ nền tảng nâng cao…
Sau khoảng 10 năm xuất hiện tại Việt Nam, lượng người dùng dịch vụ thương mại điện tử đã vượt mốc 50 triệu, chiếm trên 50% dân số. Điều này cho thấy mức độ phổ biến ngày càng cao của hình thức mua sắm này. Trong đó, trung tâm là những mô hình sàn trực tuyến, tập trung người bán và khách hàng.
Sau giai đoạn phổ cập, đây là thời điểm để nâng cấp chất lượng dịch vụ khách hàng và chuyên nghiệp hơn ở phía người bán. Đổi lại, quá trình chuyển đổi có thể gây khó khăn cho các đối tác chưa có sự chuẩn bị.
LỢI ÍCH CHO KHÁCH HÀNG
Gần đây, Shopee nâng thời gian được trả hàng miễn phí cho người dùng trên nền tảng lên mức tối đa 15 ngày. Đây là một thay đổi nhỏ, nhưng có thể giúp trải nghiệm mua sắm online được cải thiện đáng kể. Điều này có ích trong việc thu hút thêm khách hàng mới, nhóm vẫn chưa lo lắng khi sử dụng nền tảng thương mại điện tử.
Cụ thể, trước đây khách hàng được phép khiếu nại hoàn tiền sau 3 hoặc 7 ngày kể từ thời điểm nhận được sản phẩm. Khoảng thời gian này được áp dụng ở hầu hết nền tảng. Điểm trừ là khoảng thời gian 3-7 ngày đôi khi chưa đủ để người mua kiểm tra hoặc đánh giá sản phẩm.
Với chính sách mới từ sàn thương mại điện tử Shopee, người dùng có đủ thời gian để xác nhận tình trạng món hàng sắm qua mạng, quyền lợi được đảm bảo. So với cách chọn đồ trực tiếp tại cửa hàng ngoại tuyến trước khi mua, thời gian trả hàng 15 ngày từ nền tảng mang lại giá trị tương đương.
Thời gian trả hàng được kéo dài, người tiêu dùng an tâm hơn khi mua sắm trực tuyến.
Theo báo cáo “Tương lai mua sắm: Thu hút Gen Z trong kỷ nguyên kỹ thuật số” do Shopee công bố gần đây, gần 70% người mua Gen Z trong khu vực Đông Nam Á xem sàn thương mại điện tử là điểm khởi đầu quan trọng trong hành trình mua sắm và dựa vào các nền tảng này để nghiên cứu thêm về sản phẩm. Báo cáo do đơn vị Kantar thực hiện và khảo sát với hơn 2.400 người mua trên khắp Đông Nam Á này còn tiết lộ, quy trình trả hàng và hoàn tiền dễ dàng là yếu tố được Gen Z cân nhắc hàng đầu khi mua sắm.
Việc cập nhật chính sách này cho phép người mua thay đổi quyết định mua hàng đối với nhiều sản phẩm và mặt hàng. Điều này sẽ giúp khách hàng yên tâm hơn, đồng thời mang đến sự thuận tiện và linh hoạt xuyên suốt quá trình mua sắm.
Người dùng Bùi Thu Hà, ngụ tại quận Cầu Giấy, Hà Nội, cho rằng Shopee giúp khách hàng đảm bảo được đầy đủ quyền lợi, hạn chế rủi ro khi mua sắm trực tuyến.
Theo chị Hà, việc Shopee gia tăng quyền lợi người mua với việc kéo dài thời gian được yêu cầu trả hàng, hoàn tiền lên 15 ngày kể từ thời điểm bưu kiện giao thành công giúp chị yên tâm hơn với mỗi đơn hàng đặt mua.
“Như vậy, người mua hàng như chúng tôi được trả hàng trong vòng 15 ngày. Đây là khoảng thời gian đủ để người mua kiểm tra hàng, thực hiện các yêu cầu về trả hàng, hoàn tiền mà không phải lo ngại về việc hết thời hạn như trước đây”, người dùng này chia sẻ.
NGƯỜI BÁN PHẢI CHUYỂN ĐỔI
Về phía người bán, chính sách của nền tảng khiến mô hình của họ phải được chu toàn, để làm việc chính xác, chuyên nghiệp hơn. Nhằm tối ưu lợi nhuận, việc chăm sóc khách hàng, đóng gói, chuẩn bị sản phẩm cần được thực hiện chỉn chu, để giảm tình trạng khách hàng đổi ý.
Đồng thời, đây là thay đổi tất yếu, khi người dùng trên nền tảng có nhiều kinh nghiệm hơn, luôn lựa chọn kỹ khi quyết định mua sắm. Do vậy, trách nhiệm phía chủ shop cũng cần nâng cao để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Theo các chuyên gia, thay đổi chính sách có thể khiến một số người bán chưa kiện toàn mô hình, có thể gặp khó khăn khi chuyển đổi.
“Thời gian trả hàng nới rộng, đồng nghĩa việc chuẩn bị hàng hóa, dòng tiền phải cân đối lại, nhất là ở các đợt khuyến mãi, đơn tăng đột biến”, ông Đỗ Quang Huy, chuyên gia mảng thương mại điện tử, Giám đốc công ty Ecotop, chia sẻ. Vị này cho rằng người bán phải làm nhiều việc hơn, nhất là trong các bước chăm sóc khách hàng, bằng cách nhắn tin, tư vấn, tặng quà để tăng trải nghiệm.
Ngoài việc giảm lượng trả hàng, việc này còn giúp shop có thêm người dùng trung thành, có thêm đánh giá tốt trên nền tảng. Do vậy, có thể gây khó khăn ban đầu, một số người bán vẫn chấp nhận để phát triển kinh doanh.
Anh Nguyễn Quang Ninh, chủ gian hàng thời trang AKUBA trên sàn Shopee cho biết, trong nhiều ngày nay, những nhà bán hàng như anh đang bàn luận nhiều về chính sách này.
Theo anh Ninh, việc bán hàng online vốn không tránh khỏi các trường hợp người mua trả hàng hóa. Việc tăng thời hạn trả hàng cho khách lên 15 ngày của Shopee, có thể sẽ gia tăng lượng người dùng mua sắm trên gian hàng của anh. Việc mang đến trải nghiệm mua hàng tốt hơn cho người dùng, có thể giúp người dùng tự tin mua sắm, người bán cũng vì thế mà gia tăng doanh thu, tuy nhiên vẫn còn đó những nỗi lo trong chính sách mới này.
Đồng tình với vấn đề này, anh Trần Lâm, tác giả sách về thương mại điện tử, đồng thời là chủ sở hữu 7 thương hiệu “best seller” trên sàn thương mại điện tử, cho biết: “Chính sách này về cơ bản cũng có cái hay là tăng trải nghiệm khách hàng, bởi Shopee yêu cầu chỉ được trả hàng khi chưa sử dụng”.
Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng, khi kinh doanh những sản phẩm mang tính cảm quan, người mua hàng có khả năng “lợi dụng” tính năng trả hàng hoàn tiền. Tuy nhiên trên thực tế, các sàn thương mại điện tử như Shopee vẫn ở giữa đóng vai trò phân xử và chịu toàn bộ chi phí hoàn hàng nếu người mua đổi ý mua hàng”.
“Để có thể mang đến trải nghiệm mua sắm tốt hơn cho cả người mua và người bán, chúng tôi cũng mong Shopee cần có chính sách hướng dẫn người mua hàng có trách nhiệm hơn”, anh Lâm cho ý kiến thêm.
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/nang-cap-nganh-thuong-mai-dien-tu-bang-chinh-sach-moi/feed/0Web 3.0: Công nghệ được thổi phồng quá mức hay cửa ngõ dẫn đến cuộc cách mạng tài chính nghìn tỷ đô?
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/web-3-0-cong-nghe-duoc-thoi-phong-qua-muc-hay-cua-ngo-dan-den-cuoc-cach-mang-tai-chinh-nghin-ty-do/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=web-3-0-cong-nghe-duoc-thoi-phong-qua-muc-hay-cua-ngo-dan-den-cuoc-cach-mang-tai-chinh-nghin-ty-do
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/web-3-0-cong-nghe-duoc-thoi-phong-qua-muc-hay-cua-ngo-dan-den-cuoc-cach-mang-tai-chinh-nghin-ty-do/#respondTue, 26 Mar 2024 08:12:43 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2353Công nghệ phát triển nhanh chóng trong những năm qua đã giúp ngành tài chính có những bước tiến vượt bậc, trong đó nổi bật là Web 3.0. Mặc dù ngày càng phát triển trong những năm gần đây, công nghệ này vẫn nhận về không ít dự báo trái chiều… Trước kia, các giao […]
]]>Công nghệ phát triển nhanh chóng trong những năm qua đã giúp ngành tài chính có những bước tiến vượt bậc, trong đó nổi bật là Web 3.0. Mặc dù ngày càng phát triển trong những năm gần đây, công nghệ này vẫn nhận về không ít dự báo trái chiều…
Web 3.0: Công nghệ được thổi phồng quá mức hay cửa ngõ dẫn đến cuộc cách mạng công nghệ tài chính nghìn tỷ đô?
Trước kia, các giao dịch tài chính thường chủ yếu dựa trên sổ cái và tính toán thủ công. Tuy nhiên, sự ra đời của Internet đã dân chủ hóa khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính, trao quyền cho hàng triệu người.
Theo Tech Collective, hiện nay, khối lượng các giao dịch xuyên biên giới ngày càng tăng. Các giao dịch xuyên biên giới B2B toàn cầu dự kiến sẽ vượt 40 nghìn tỷ USD vào năm 2024, đánh dấu mức tăng 9% từ 37 nghìn tỷ USD vào năm 2022. Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của các giao dịch xuyên biên giới trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt đối với thương mại quốc tế và thương mại điện tử.
Ngành tài chính truyền thống, được gọi là TradFi, dựa vào các hệ thống có phần lỗi thời cùng sự tham gia của các bên trung gian như ngân hàng và các tổ chức tài chính khác để giao dịch, thường dẫn đến phí giao dịch đắt đỏ, thời gian xử lý chậm. Đặc biệt đối với các giao dịch xuyên biên giới, tính kém hiệu quả và những các yêu cầu về tài liệu bổ sung càng thể hiện rõ. Theo một nghiên cứu, một giao dịch xuyên biên giới điển hình ở Mỹ có thể mất trung bình một tháng để doanh nghiệp nhận được thanh toán.
Đó cũng là lý do vì sao Web 3.0 đã và đang nổi lên như một nhân tố thay đổi cuộc chơi. Công nghệ này cung cấp các dịch vụ tài chính tiên tiến, an toàn hơn và nhanh hơn. Trong khi một số người coi đây là “giải phóng” tài chính thì những người khác lại lo ngại hệ thống công nghệ này có thể phá vỡ hệ thống tài chính.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận những thách thức và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến Web3. Các mối đe dọa an ninh mạng, sự không chắc chắn về quy định, vấn đề về khả năng mở rộng và mối lo ngại về quyền riêng tư dữ liệu là một số lĩnh vực chính cần được điều hướng cẩn thận để đảm bảo tích hợp thành công công nghệ Web 3.0. Chính vì vậy, các tổ chức cũng cần lưu ý và xem xét kỹ lưỡng trước khi thực hiện những thay đổi.
MỞ KHÓA TIỀM NĂNG MÃ THÔNG BÁO TRONG WEB 3.0
Trong thế giới kỹ thuật số, mã thông báo là một đối tượng kỹ thuật số, một chuỗi mã hoạt động để đại diện cho một số loại giá trị — bất động sản, sở hữu trí tuệ và thậm chí cả hợp đồng v.v. Quá trình chuyển đổi một tài sản hoặc quyền sở hữu như vậy giúp tăng cường tính thanh khoản của thị trường và tạo điều kiện cho việc tiếp cận tài sản dễ dàng với sự minh bạch hoàn toàn.
Mã thông báo được sử dụng để tăng cường tính thanh khoản, tạo điều kiện thuận lợi cho quyền sở hữu theo tỷ lệ và hợp lý hóa giao dịch của tất cả các loại tài sản, giúp chúng dễ tiếp cận hơn với nhiều nhà đầu tư hơn, cũng như tính bất biến của tài sản sau khi hoàn tất, ngăn chặn bất kỳ thực thể đơn lẻ nào thay đổi trạng thái giao dịch.
Theo ông Qin En Looi, Đối tác tại Saison Capital, mã thông báo tài sản trong thế giới thực (RWA) sẽ tăng trưởng, mặc dù thị trường Web 3.0 hiện đang ở trong thị trường xuốnggiá và doanh thu bán hàng toàn cầu dự kiến sẽ giảm từ 3,34 tỷ USD vào năm 2022 xuống còn 0,45 tỷ USD vào năm 2023. Token hóa tài sản thực có tiềm năng phát triển nhanh chóng trong thập kỷ này, với ước tính lên tới 16 nghìn tỷ USD vào năm 2030.
NHỮNG GÃ KHỔNG LỒ TRADFI “ỒN ÀO” VỚI XU HƯỚNG TOKEN HÓA
Các ngân hàng quốc tế đều đã và đang thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến token hóa. Ví dụ: gã khổng lồ đầu tư Franklin Templeton trị giá 1,4 nghìn tỷ USD đã mở rộng hỗ trợ cho quỹ tương hỗ được đăng ký đầu tiên của Hoa Kỳ (FOBXX) sang chuỗi khối Polygon và Ethereum. Citibank đã nghiên cứu công nghệ blockchain tại Phòng thí nghiệm Đổi mới của mình trong nhiều năm. Deutsche Bank đang hợp tác với một công ty khởi nghiệp về tiền điện tử của Thụy Sĩ để thiết lập các dịch vụ lưu ký và mã thông báo tài sản kỹ thuật số.
Ở châu Á, Singapore và Hồng Kông đang thực hiện các bước để định vị mình là trung tâm tài chính công nghệ của khu vực. Theo đó, cơ quan tiền tệ Singapore đang hỗ trợ sự phát triển của mã thông báo RWA bằng cách phát triển khung pháp lý truyền thống để phù hợp với các đặc điểm độc đáo của mã thông báo Web 3.0 và RWA. Ngay cả ở Hồng Kông, đợt phát hành trái phiếu xanh trị giá 100 triệu USD đã được token hóa thành công, chứng tỏ lợi ích tiềm năng của token hóa trong việc cải thiện hiệu quả, nâng cao tiện ích tài sản và tính minh bạch.
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/web-3-0-cong-nghe-duoc-thoi-phong-qua-muc-hay-cua-ngo-dan-den-cuoc-cach-mang-tai-chinh-nghin-ty-do/feed/0Tháng 3/2024 sẽ có hướng dẫn các địa phương tính kinh tế số theo quý
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/thang-3-2024-se-co-huong-dan-cac-dia-phuong-tinh-kinh-te-so-theo-quy/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=thang-3-2024-se-co-huong-dan-cac-dia-phuong-tinh-kinh-te-so-theo-quy
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/thang-3-2024-se-co-huong-dan-cac-dia-phuong-tinh-kinh-te-so-theo-quy/#respondTue, 26 Mar 2024 07:45:43 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2348Trong tháng 3 này sẽ có hướng dẫn các địa phương biết cách tính toán kinh tế số dựa trên bảng I/O cập nhật số liệu theo quý để các địa phương dựa nắm được thực trạng phát triển, biết điểm mạnh yếu để từ đó có biện pháp thúc đẩy phát triển… Một trong […]
]]>Trong tháng 3 này sẽ có hướng dẫn các địa phương biết cách tính toán kinh tế số dựa trên bảng I/O cập nhật số liệu theo quý để các địa phương dựa nắm được thực trạng phát triển, biết điểm mạnh yếu để từ đó có biện pháp thúc đẩy phát triển…
Ảnh minh họa
Một trong những vấn đề được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng lưu ý nhiều lần tại hội nghị giao ban quản lý nhà nước quý 1/2024 của Bộ Thông tin và Truyền thông với các sở Thông tin và Truyền thông, các cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin các Bộ, ngành, đó là các đơn vị của Bộ cần tập trung làm các hướng dẫn triển khai thực hiện các công việc thuộc các lĩnh vực tại địa phương.
Các văn bản, quy hoạch, chiến lược, kế hoạch do Bộ xây dựng và trình các cấp ban hành, cũng như các văn bản của Bộ ban hành… phải có hướng dẫn thực hiện để địa phương cũng như các đơn vị công nghệ thông tin triển khai, vận dụng, đưa vào quy hoạch, kế hoạch của mình. Bộ trưởng nhấn mạnh, việc hướng dẫn thực hiện là rất quan trọng và cần phải được ban hành cùng với các chiến lược, quy hoạch…
TẬP TRUNG LÀM HƯỚNG DẪN CÁC LĨNH VỰC CỦA NGÀNH CHO ĐỊA PHƯƠNG TRIỂN KHAI
Theo đó, cần tập trung làm ngay một số hướng dẫn như hoàn thiện bộ máy chuyển đổi số, hướng dẫn các bộ ngành tổ chức hội nghị chuyên đề của ngành mình về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; nâng cao tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến, hồ sơ được xử lý trực tuyến toàn trình từ xa; mô hình truyền thông chính sách cấp tỉnh, bộ ngành…
Liên quan đến hướng dẫn các địa phương thực hiện tính toán giá trị kinh tế số, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Huy Dũng thông tin thêm, theo pháp luật thống kê, các địa phương chỉ thu thập, lấy dữ liệu cung cấp cho Tổng cục Thống kê tính toán và công bố thống nhất trên toàn quốc tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của địa phương. Như vậy, đầu vào do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp, hướng dẫn các địa phương để cung cấp dữ liệu cho Tổng cục Thống kê tính toán.
Bên cạnh đó, để giúp các Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu phát triển kinh tế số ở các địa phương, Bộ đã có phương pháp tính toán ước lượng đo lường cấu trúc, ước lượng tỷ trọng kinh tế số từng ngành, lĩnh vực. Trên cơ sở đó, các địa phương sẽ biết rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình để tập trung pháp triển. Vấn đề này, Vụ Kinh tế số và xã hội số cùng Tổng cục Thống kê đã thống nhất để Bộ Thống tin và Truyền thông hướng dẫn.
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.
Vụ Kinh tế số và xã hội số cho biết trong tháng 3/2024 sẽ có hướng dẫn các địa phương biết cách tính toán kinh tế số dựa trên bảng I/O cập nhật số liệu theo quý, dựa vào đó nắm được thực trạng phát triển, từ đó có biện pháp thúc đẩy. Từ tháng 7/2023, số liệu tính toán của của các tỉnh theo hướng dẫn này và số liệu của Tổng cục Thống kê sẽ cơ bản giống nhau.
Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tốc độ tăng trưởng Kinh tế số Việt Nam năm 2023 tiếp tục tăng 19%, cao nhất khu vực Đông Nam Á. Tỷ trọng kinh tế số trong GDP ước đạt 16,5%. Mục tiêu năm 2024, tổng doanh thu lĩnh vực kinh tế số nền tảng đạt 40 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế số nền tảng từ 20-25%. Tỷ lệ đóng góp của tổng các cấu phần kinh tế số vào GDP đạt từ 19%-20%. Tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt 7,5%.
Định hướng đến năm 2025, kinh tế số chiếm trên 20% GDP cả nước, tăng trưởng từ 20%-25%/năm, gấp 3 lần tăng trưởng GDP. Tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%.
Đối với Cục Chuyển đổi số quốc gia có đánh giá, đo lường trực tuyến về tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình. Để đạt được chỉ tiêu này, Bộ sẽ có công văn hướng dẫn, đôn đốc địa phương các biện pháp thực hiện.
Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đủ điều kiện đạt 100%. Hiện có 83/83 Bộ, tỉnh đã ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến toàn trình, một phần theo Nghị định số 42/2022/NĐ-CP. Tính đến 20/2/2024, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến (trên tổng thủ tục hành chính) đạt 81,12%; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình (trên tổng thủ tục hành chính) đạt 48,28%; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 37,19%.
Bộ cũng yêu cầu, đến ngày 15/4, Viện Chiến lược chính sách Thông tin và Truyền thông phải có hướng dẫn triển khai Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông; đồng thời có hướng dẫn Chiến lược dữ liệu để các địa phương, Sở Thông tin và Truyền thông triển khai.
SẼ CÓ BỘ TIÊU CHÍ VỀ CAMERA GIÁM SÁT
Cục An toàn thông tin, cho biết hiện đang xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu an toàn thông tin mạng cơ bản với camera giám sát theo chỉ đạo của Chính phủ. Đây là yêu cầu cơ bản, còn với từng loại camera gắn với hệ thống thông tin nào sẽ phải đáp ứng tiêu chuẩn đảm bảo an toàn thông tin theo cấp độ.
Năm 2023, Cục An toàn thông tin đã ban hành hướng dẫn đảm bảo an toàn thông tin đối với hệ thống thông tin sử dụng camera giám sát. Còn với từng lĩnh vực đặc thù có thể đưa ra các yêu cầu riêng phù hợp.
Hội nghị giao ban quản lý nhà nước quý I/2024 của Bộ Thông tin và Truyền thông với các sở Thông tin và Truyền thông.
Theo Chỉ thị 23/CT-TTg về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh thông tin cho thiết bị camera giám sát, Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng bộ tiêu chí về yêu cầu an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát. Cùng với đó ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu an toàn thông tin mạng cơ bản cho camera giám sát và tuyên truyền, phổ biến, tổ chức hướng dẫn áp dụng quy chuẩn kỹ thuật này.
Tại hội nghị, lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu Cục An toàn thông tin hoàn thiện bộ tiêu chí hoạt động dành cho camera giám sát, ban hành trước ngày 20/5 tới.
Ngoài ra, Cục An toàn thông tin hoàn thành việc xây dựng, ban hành Sổ tay hướng dẫn bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; xây dựng văn bản hướng dẫn bảo đảm an toàn thông tin cấp bộ, tỉnh…
Về cách làm chuyển đổi số nói riêng và những vấn đề mới nói chung, người đứng đầu ngành Thông tin và Truyền thông, cho rằng nên làm thí điểm ở một diện nhỏ (có thể là một xã hoặc thôn), đỡ tốn kém nhưng phải làm đến nơi, triệt để, làm đến kết quả cuối cùng để hiểu rõ các vấn đề, sau đó hướng dẫn, nhân rộng mô hình trên toàn quốc.
Năm 2024, Bộ Thông tin và Truyền thông xác định các công tác của Bộ phải tạo ra những kết quả thiết thực, trọng tâm cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức, trong đó có việc tập trung là làm trợ lý ảo.
Hiện nay, Bộ đang triển khai phát triển 4 trợ lý chính: Trợ lý ảo hỗ trợ cán bộ công chức; Trợ lý ảo phát hiện mâu thuẫn văn bản pháp luật; Trợ lý ảo hỗ trợ pháp lý cho người dân; Trợ lý ảo hỗ trợ thẩm phán (đã đưa vào sử dụng). Ngoài ra, còn có các trợ lý tri thức cho một số lĩnh vực riêng để mỗi cán bộ có thêm 1 trợ lý giúp công việc giấy tờ, số liệu sẽ được hỗ trợ nhờ AI.
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/thang-3-2024-se-co-huong-dan-cac-dia-phuong-tinh-kinh-te-so-theo-quy/feed/0Đánh giá hiện trạng, các vấn đề đặt ra của kinh tế số
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/danh-gia-hien-trang-cac-van-de-dat-ra-cua-kinh-te-so/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=danh-gia-hien-trang-cac-van-de-dat-ra-cua-kinh-te-so
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/danh-gia-hien-trang-cac-van-de-dat-ra-cua-kinh-te-so/#respondTue, 26 Mar 2024 07:30:30 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2345Đánh giá đúng hiện trạng Thực trạng của kinh tế số được biểu hiện ở nhiều chỉ tiêu (như cơ sở sản xuất, lao động, vốn đang hoạt động, doanh thu, lợi nhuận trước thuế, thu nhập, nộp ngân sách…). Nhưng tổng hợp nhất là giá trị tăng thêm của hoạt động này, thể hiện ở tỷ […]
Thực trạng của kinh tế số được biểu hiện ở nhiều chỉ tiêu (như cơ sở sản xuất, lao động, vốn đang hoạt động, doanh thu, lợi nhuận trước thuế, thu nhập, nộp ngân sách…). Nhưng tổng hợp nhất là giá trị tăng thêm của hoạt động này, thể hiện ở tỷ lệ giá trị tăng thêm của kinh tế số trên GDP.
Ở phạm vi cả nước, tỷ lệ kinh tế trên GDP của Việt Nam năm 2023 đạt 12,33%, thấp nhất so với 3 năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do sản xuất, xuất khẩu của các ngành kinh tế số lõi (máy tính, sản phẩm điện tử, quang học – chiếm hơn 30% tổng giá trị tăng thêm của kinh tế số) bị giảm, có loại còn bị giảm sâu và đây là nguyên nhân có tính khách quan. Trong khi đó, tỷ trọng kinh tế số của các ngành dịch vụ, trong hoạt động quản lý, điều hành có xu hướng tăng – đây là một tín hiệu vui.
Tỷ lệ kinh tế số trên GDP của Việt Nam thấp xa so với tỷ trọng của Trung Quốc, nhưng cao hơn tỷ trọng của Mỹ, Thái Lan, Canada, Australia… Điều này phải chăng là do còn có sự khác nhau về khái niệm, phạm vi của kinh tế số…
Tỷ lệ kinh tế số trên GDP của Việt Nam thấp khá xa so với tỷ trọng theo mục tiêu đã đề ra (đến năm 2025 đạt 20%, đến 2030 đạt 30%). Điều đó đòi hỏi nhiệm vụ còn lại trong năm 2024, 2025 rất nặng nề, hoặc là cảnh báo về khả năng không đạt được mục tiêu.
Theo phạm vi của kinh tế số (gồm kinh tế số lõi – đầu vào của kinh tế số – và ứng dụng kinh tế số vào những ngành khác – đầu ra của kinh tế số), thì tỷ lệ trong các ngành kinh tế số lõi cao gần gấp rưỡi tỷ lệ kinh tế số ứng dụng vào các ngành khác. Điều đó chứng tỏ, cần đẩy nhanh sự hồi phục và phát triển kinh tế số lõi; mở rộng ứng dụng kinh tế số vào các ngành khác và vào hoạt động quản lý, điều hành – dư địa còn rộng lớn của kinh tế số.
Tỷ trọng kinh tế số trong nông, lâm nghiệp – thủy sản còn ở mức rất thấp, bởi trong nhóm ngành này hầu như không có kinh tế số lõi, việc ứng dụng kinh tế số còn rất hạn chế. Do vậy, cần chuyển nông nghiệp từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, khẩn trương áp dụng và mở rộng việc áp dụng kinh tế số vào ngành này để tăng kết nối, tiết kiệm chi phí, tăng giá trị tăng thêm.
Tỷ trọng kinh tế số trong công nghiệp – xây dựng đạt khá hơn, chủ yếu do kinh tế số lõi tập trung chủ yếu vào ngành này, đồng thời cũng bị ảnh hưởng lớn của nhu cầu quốc tế (như đã xảy ra thời gian qua); việc ứng dụng kinh tế số cũng chưa sâu rộng.
Tỷ trọng kinh tế số trong nhóm ngành dịch vụ hiện cao nhất nhờ có dư địa rộng và tỷ trọng kinh tế số lõi thuộc nhóm ngành công nghiệp – xây dựng gặp khó khăn. Dư địa của nhóm ngành này còn khá rộng, đặc biệt đối với những ngành có tỷ lệ kinh tế số còn thấp, như thú y, trợ giúp xã hội, chăm sóc, điều dưỡng tập trung, xử lý ô nhiễm, quản lý chất thải khác…
Mục tiêu và những vấn đề đặt ra
Nghị quyết số 52/NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra nhiều mục tiêu, trong đó có 6 mục tiêu cơ bản đến năm 2025 và năm 2030, như tỷ trọng kinh tế số/GDP là 20-30%; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành đạt tối thiểu 10-20%…
Mục tiêu đề ra rất cao, trong khi hiện trạng còn ở mức thấp, mà thời gian, nhất là đến năm 2025 đã rất gần. Trong đó, một vấn đề lớn và thách thức đầu tiên là nhận thức đối với kinh tế số là vấn đề quan trọng, mới, vấn đề khó, có tính tri thức cao.
Môi trường pháp lý và thể chế phát triển kinh tế số chưa hoàn thiện, đồng bộ. Mục tiêu tập trung vào sản xuất, còn ít về lao động, vốn đầu tư, doanh nghiệp, doanh thu, tỷ suất lợi nhuận… Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số còn nhiều hạn chế, cả về cơ sở vật chất, cơ sở dữ liệu, đường truyền, còn phân tán, thậm chí còn cát cứ, sự kết nối, liên thông còn hạn chế.
Nguồn nhân lực, nhất là về công nghệ thông tin còn ít về số lượng, yếu về chất lượng, không ít người còn chuyên môn đơn thuần… Số doanh nghiệp nội địa còn ít, nhỏ yếu… Nền kinh tế tiền mặt tuy đã giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao (tỷ lệ tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng trong tổng phương tiện thanh toán vẫn ở mức trên 11%). Khâu an ninh mạng, bảo mật an toàn thông tin còn hạn chế…
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/danh-gia-hien-trang-cac-van-de-dat-ra-cua-kinh-te-so/feed/0Phát triển con người để đáp ứng kinh tế số
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/phat-trien-con-nguoi-de-dap-ung-kinh-te-so/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=phat-trien-con-nguoi-de-dap-ung-kinh-te-so
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/phat-trien-con-nguoi-de-dap-ung-kinh-te-so/#respondTue, 26 Mar 2024 07:24:07 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2341Nếu những năm 1990, chỉ số phát triển con người ở vị trí tương đối thấp, thì nay Việt Nam đang ở giữa bảng xếp hạng “Chỉ số Phát triển con người (HDI) toàn cầu”. Sự liên tục tiến bộ của chỉ số phát triển con người ở Việt Nam trong 30 năm qua cho […]
]]>Con người là yếu tố then chốt trong phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam. (Ảnh minh họa – Nguồn: TCTC)
Nếu những năm 1990, chỉ số phát triển con người ở vị trí tương đối thấp, thì nay Việt Nam đang ở giữa bảng xếp hạng “Chỉ số Phát triển con người (HDI) toàn cầu”. Sự liên tục tiến bộ của chỉ số phát triển con người ở Việt Nam trong 30 năm qua cho thấy, trong tiến trình phát triển kinh tế số, yếu tố con người sẽ đóng vai trò quan trọng.
Phát triển con người tiếp tục là trọng tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam
Mới đây, Văn phòng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đã công bố báo cáo mới nhất về HDI toàn cầu, trong đó xếp Việt Nam nằm trong nhóm phát triển con người cao.
Cụ thể, theo Báo cáo của UNDP, giá trị HDI của Việt Nam năm 2022 là 0,726 – đứng thứ 107 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 1990 đến năm 2022, giá trị HDI của Việt Nam thay đổi từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Vào những năm 1990 khi UNDP đưa ra chỉ số phát triển con người HDI, Việt Nam ở vị trí tương đối thấp trong bảng xếp hạng, nhưng đến nay Việt Nam đang ở giữa bảng xếp hạng và liên tục tiến bộ trong 30 năm qua. “Việt Nam vẫn là quốc gia có mức phát triển con người cao trong suốt những năm khó khăn của đại dịch COVID-19. Phát triển con người tiếp tục là trọng tâm trong chiến lược phát triển của đất nước và chúng tôi đã thấy những kết quả đáng kể trong những thập kỷ qua” – Trưởng Đại diện thường trú của UNDP Ramla Khalidi cho biết.
Việt Nam xếp thứ 91/166 quốc gia về Chỉ số Bất bình đẳng giới, chỉ số xem xét sự bất bình đẳng trên ba khía cạnh sức khỏe sinh sản, trao quyền và thị trường lao động. “Việt Nam đã làm tốt ở một số khía cạnh, như tiếp cận giáo dục và tham gia lực lượng lao động”, bà Ramla Khalidi nhấn mạnh.
Báo cáo Phát triển Con người (HDR) 2023/2024, có tiêu đề “Phá vỡ tình trạng bế tắc: Tái hình dung sự hợp tác trong một thế giới phân cực” cho thấy một xu hướng đáng lo ngại là sự phục hồi chưa đầy đủ và không đồng đều của HDI toàn cầu – một thước đo tóm tắt phản ánh tổng GDP của một quốc gia thu nhập (GNI) bình quân đầu người, trình độ học vấn và tuổi thọ trung bình. HDI được dự đoán sẽ đạt mức cao kỷ lục vào năm 2023 sau khi giảm mạnh trong năm 2020 và 2021. Tuy nhiên, tiến độ này rất không đồng đều. Các nước giàu đang có mức độ phát triển con người cao kỷ lục trong khi một nửa số nước nghèo nhất thế giới vẫn ở dưới mức trước khủng hoảng.
Báo cáo của UNDP cho thấy tiến độ phát triển không đồng đều đang khiến những người nghèo nhất bị bỏ lại phía sau, tình trạng bất bình đẳng trầm trọng hơn và gây ra sự phân cực chính trị trên quy mô toàn cầu. Tình trạng này dẫn đến sự bế tắc nguy hiểm cần phải hiệp lực giải quyết gấp. “Khoảng cách phát triển con người ngày càng lớn như báo cáo đề cập đến cho thấy xu hướng giảm dần bất bình đẳng giữa các quốc gia giàu và nghèo trong hai thập kỷ qua hiện đang bị đảo ngược. Mặc dù xã hội toàn cầu được kết nối chặt chẽ với nhau, chúng ta đang thiếu hụt. Chúng ta cần tận dụng sự phụ thuộc lẫn nhau cũng như khả năng giải quyết những thách thức chung đang tồn tại, đồng thời bảo đảm đáp ứng nguyện vọng của người dân”, ông Achim Steiner, Tổng Giám đốc UNDP cho biết.
Theo ông Achim Steiner, sự bế tắc này gây thiệt hại đáng kể về người. Thiếu sự hiệp lực nhằm thúc đẩy hành động về biến đổi khí hậu, số hóa hay nghèo đói và bất bình đẳng không chỉ cản trở sự phát triển con người mà còn làm trầm trọng thêm sự phân cực và làm xói mòn thêm niềm tin vào người dân và các tổ chức trên toàn thế giới.
Con người là yếu tố then chốt trong phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam
Công bố báo cáo mới nhất về HDI toàn cầu xếp Việt Nam nằm trong nhóm phát triển con người cao. (Ảnh minh họa. Nguồn: Vietnam Insider).
Từ nhận định của ông Achim Steiner, có thể thấy trong tiến trình số hóa, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng.
Kinh tế số (Digital economy) là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet; được hiểu là toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số và phát triển kinh tế số là sử dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình hợp tác kinh doanh mới. Kinh tế số giúp gia tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, kinh tế số cũng giúp tăng trưởng bền vững vì có sử dụng tri thức nhiều hơn là tài nguyên. Chi phí để doanh nghiệp, người dân tham gia vào nền kinh tế số thấp hơn nên tạo ra cơ hội cho nhiều người hơn. Cùng với việc ứng dụng công nghệ số, mạng lưới internet không biên giới sẽ làm giảm được khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa các quốc gia khu vực.
Phát triển kinh tế số là xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định về “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chính phủ điện tử, liên quan đến phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mục tiêu đến năm 2025 là kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%. Đến năm 2030, kinh tế số thúc đẩy GDP Việt Nam tăng thêm 7 – 16%, tương đương khoảng 28 – 62 tỷ USD. Đảng và Nhà nước đưa ra nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp thực hiện thúc đẩy nền kinh tế số nước nhà, trong đó con người là một trong những yếu tố trọng tâm.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế là do con người và vì con người. Chính vì vậy, thực tế để phát triển kinh tế số, việc phát huy nhân tố con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế – xã hội. Việt Nam với gần 100 triệu dân và đang ở trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” được đào tạo tốt, học tập và lao động chăm chỉ, đồng thời con người Việt Nam yêu thích và nhanh nhạy trong tiếp cận và sử dụng công nghệ mới, đây là một lợi thế rất lớn để thúc đẩy phát triển nền kinh tế số nước nhà.
Tuy có nhiều lợi thế về nguồn lao động trẻ lớn nhưng, lực lượng lao động Việt Nam còn thiếu nhiều kỹ năng cần thiết để có thể làm chủ nền kinh tế số, chính vì vậy việc nâng cao kỹ năng số phù hợp cho đội ngũ lao động để tận dụng thế mạnh của công nghệ số là hành động cần sớm thực hiện.
Mới đây, trao đổi với truyền thông, Tiến sỹ Nguyễn Duy Cừ một chuyên gia trong lĩnh vực an ninh mạng, chống gian lận và lừa đảo trên mạng viễn thông, đang phụ trách nghiên cứu sáng tạo và phát triển sản phẩm trong nhóm Cyberlabs của Tập đoàn POST Luxembourg, đã nói về những động lực, rủi ro của phát triển kinh tế số, cũng như đánh giá về tình hình hiện nay tại Việt Nam. Theo Tiến sỹ Nguyễn Duy Cừ, trong nền kinh tế số, sản xuất, dịch vụ, thương mại, giáo dục… đều vận hành trên nền tảng số kết nối (công nghệ thông tin và viễn thông). Có 4 yếu tố quan trọng cần được đầu tư và phát triển đồng bộ gồm con người, thể chế pháp lý, hạ tầng mạng, nội dung và tri thức số.
Đánh giá về Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Duy Cừ cho rằng trong giai đoạn hiện nay, con người và thể chế pháp lý là hai yếu tố quan trọng nhất cần được ưu tiên. Về con người, ngoài đội ngũ vận hành, quản lý, phát triển ứng dụng và hạ tầng, cần có đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà nghiên cứu và hoạch định chiến lược. Theo chuyên gia này, việc đào tạo nhân sự có chất lượng theo chuẩn quốc tế để đáp ứng được nhu cầu của kinh tế số là một thách thức lớn.
Kinh tế số hứa hẹn tạo ra nhiều cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, xóa bỏ khác biệt địa lý hay nhiều đặc quyền mà trước kia chỉ có một số ít trung tâm kinh tế mới có được. Nền kinh tế số đòi hỏi người dân có kỹ năng sử dụng và sở hữu điện thoại thông minh, song không phải tất cả người dân đều đủ khả năng tài chính. Do đó, Tiến sỹ Nguyễn Duy Cừ nhấn mạnh Chính phủ cần ưu tiên đầu tư vào hạ tầng kết nối để mọi người dân đều có thể tiếp cận kinh tế số thông qua chính sách ưu tiên phát triển, trợ giá Internet, xóa nghèo, hay giáo dục… Về thể chế pháp lý, cần có một hành lang pháp luật phù hợp theo kịp sự phát triển và tạo điều kiện cho kinh tế số. Yếu tố này trải rộng từ các quyết sách đồng bộ từ Chính phủ đến những quy định cụ thể về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, quyền riêng tư…
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/phat-trien-con-nguoi-de-dap-ung-kinh-te-so/feed/0Phát triển kinh tế số: Kỳ vọng năm 2024 với nhiều bứt phá
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/phat-trien-kinh-te-so-ky-vong-nam-2024-voi-nhieu-but-pha/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=phat-trien-kinh-te-so-ky-vong-nam-2024-voi-nhieu-but-pha
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/phat-trien-kinh-te-so-ky-vong-nam-2024-voi-nhieu-but-pha/#respondTue, 26 Mar 2024 05:01:37 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2324Từ những điểm sáng trong năm 2023… Năm 2023 là một năm đầy thách thức cho kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, xung đột quốc tế, chính sách tiền tệ và tăng giá hàng hóa. Ngoài ra, còn có những khó khăn […]
Năm 2023 là một năm đầy thách thức cho kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, xung đột quốc tế, chính sách tiền tệ và tăng giá hàng hóa. Ngoài ra, còn có những khó khăn mới như xung đột ở Trung Đông, lệnh cấm xuất khẩu và sự “an ninh hóa” và “vũ khí hóa” các công cụ thương mại.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), GDP năm 2023 chỉ đạt 2,6% (thấp hơn mức 3% năm 2022) và tiếp tục chậm lại vào năm 2024 với mức tăng 2,4% trong năm 2024 khi Mỹ và Trung Quốc tăng trưởng chậm. Cùng với đó, lạm phát (CPI) giảm từ mức đỉnh 8,6% năm 2022 xuống còn 5% cuối năm 2023.
Tuy nhiên, năm 2023 cũng là năm bùng nổ của các công nghệ mới, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI). AI đã trở thành một lĩnh vực chiến lược, thu hút sự quan tâm và thảo luận của xã hội về cơ hội, tác động và hợp tác quốc tế.
Trí tuệ nhân tạo đã trở thành một lĩnh vực chiến lược, thu hút sự quan tâm và thảo luận của xã hội về cơ hội, tác động và hợp tác quốc tế
Trong khu vực hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn là điểm sáng, với việc thúc đẩy các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) và nâng cao độ độc lập và tự chủ kinh tế. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, kinh tế Việt Nam đã phục hồi tăng trưởng trong nửa cuối năm 2023, GDP năm 2023 tăng 5,05%, thấp hơn mục tiêu, nhưng có sự cải thiện giữa các quý, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,25%. Lĩnh vực doanh nghiệp đã có sự cơ cấu lại, với số lượng doanh nghiệp mới đăng ký đạt mức kỷ lục, tăng 4,6% so với dự kiến. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 6,2%, với khu vực nhà nước có tăng trưởng nhanh nhất.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn là điểm sáng, với tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện đạt gần 36,6 tỷ USD và 23,18 tỷ USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 683 tỷ USD, với cán cân thương mại dương 28 tỷ USD. Cả xuất khẩu và nhập khẩu giảm, nhưng có sự cải thiện vào cuối năm, đặc biệt từ các FTA.
Về những dự báo kinh tế 2024, thách thức và rủi ro chính trong năm 2024, xung đột chính trị toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp, điều này gây gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia lớn.
Ngoài ra, sự suy thoái của một số ngân hàng ở Mỹ và Thụy Sỹ, tình trạng tăng cao của nợ công và nợ tư, cùng với rủi ro thị trường tài chính và tiền tệ toàn cầu, đồng thời có sự gia tăng đáng kể về rủi ro nợ xấu và sự vỡ nợ. Các mối đe dọa về an ninh năng lượng và an ninh lương thực vẫn còn tồn tại, trong khi giá cả, lạm phát và lãi suất toàn cầu giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức đáng kể, đồng thời rủi ro về tài chính và tiền tệ gia tăng, làm chậm quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu. Tình hình này gây ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực như xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng, du lịch quốc tế và thị trường tài chính tại Việt Nam.
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Để tạo đà tăng trưởng cho năm 2024, Việt Nam cần tập trung vào việc củng cố và làm mới các động lực tăng trưởng hiện có, đồng thời chú trọng vào việc cơ cấu lại nền kinh tế sau thời kỳ suy thoái kéo dài do đại dịch, và thực hiện các biện pháp khẩn cấp để khắc phục tình trạng yếu kém trong doanh nghiệp và dự án.
Về dự báo tình hình phát triển kinh tế Việt Nam năm 2024, báo cáo “Kinh tế Việt Nam năm 2023 và triển vọng năm 2024: Cải cách để tăng tốc phục hồi tăng trưởng” đưa ra 2 kịch bản dự báo cho năm 2024, với tăng trưởng kinh tế có thể đạt 6,13% và 6,48%. Xuất khẩu, thặng dư thương mại và lạm phát cũng được dự báo ở mức khả quan.
Kịch bản tích cực đòi hỏi các giải pháp chính sách cải cách nền tảng kinh tế vĩ mô, tăng cường cải cách môi trường kinh doanh, hỗ trợ mô hình kinh tế mới, và cải cách thể chế. Các chuyên gia nhấn mạnh vai trò của thể chế và năng suất lao động trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời đề cập đến những thách thức từ biến động kinh tế thế giới.
Kịch bản tích cực còn nhấn mạnh đến việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các mô hình kinh tế mới, và cải cách môi trường kinh doanh. Chính phủ cũng đề xuất giải quyết những thách thức như nợ đọng văn bản, kỷ luật, khó khăn trong hấp thụ vốn, nhằm tạo động lực cho phục hồi tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Tốc độ phát triển kinh tế số Việt Nam tiếp tục dẫn đầu Đông Nam Á
Theo kết quả đo lường của Tổng cục Thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2023 là 12,33%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 7,42% (chiếm 60,19%), số hóa các ngành khác đóng góp 4,91% (chiếm 39,81%).
Tỷ trọng kinh tế số trong GDP Việt Nam có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn 2020-2023. Năm 2020, tỷ trọng này là 12,66%; năm 2021 là 12,87%; năm 2022 là 12,63%. Tuy nhiên, năm 2023, tỷ trọng kinh tế số trong GDP có dấu hiệu giảm nhẹ, chỉ đạt 12,33%.
Nguyên nhân là do ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (chiếm khoảng hơn 30% tổng giá trị tăng thêm của hoạt động kinh tế số) giảm do nhu cầu thế giới giảm.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến các hoạt động kinh tế, xã hội bị gián đoạn, dẫn đến sự sụt giảm của một số ngành kinh tế số như thương mại điện tử, du lịch trực tuyến,…
Dù vậy, tỷ trọng kinh tế số trong GDP Việt Nam vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, tỷ trọng kinh tế số trong GDP của Việt Nam cao hơn so với Thái Lan (12,1%), Indonesia (8,3%), Philippines (6,9%), Singapore (17,3%), Malaysia (23,1%).
Cuối năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố kết quả chuyển đổi số quốc gia với 62 mục tiêu đề ra. Trong số này, 18 mục tiêu đã được hoàn thành, chiếm 29%, 27 mục tiêu có khả năng hoàn thành cao (43,5%), và 17 mục tiêu còn lại đang đòi hỏi nỗ lực tập trung để hoàn thành đúng hạn (27,5%). Kế hoạch năm 2023 đặt ra 126 nhiệm vụ, trong đó đã hoàn thành 102 nhiệm vụ, đạt tỷ lệ 81%.
Trong lĩnh vực sáng tạo và chuyển đổi số, Việt Nam tiếp tục đứng trong nhóm 50 nước dẫn đầu với thứ hạng 46 trong Chỉ số Đổi mới Sáng tạo của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới năm 2023, tăng 2 bậc so với năm 2022.
Kinh tế số Việt Nam phát triển nhanh nhất Đông Nam Á trong 2 năm liên tiếp. (Ảnh minh họa)
Google cũng đã đánh giá tốc độ phát triển kinh tế số của Việt Nam là nhanh nhất Đông Nam Á trong hai năm liên tiếp (28% vào năm 2022 và 19% vào năm 2023), vượt gấp 3,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Tổng doanh thu từ thị trường nước ngoài của hơn 1.500 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt 7,5 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2022.
Việt Nam cũng nằm trong nhóm 10 nước dẫn đầu về số lượng lượt tải mới ứng dụng di động trong 2 năm liên tiếp, với tăng trưởng 46% người dùng trên các nền tảng số.
Các cơ quan và bộ ngành đã thành công trong việc đơn giản hóa 2.500 quy định kinh doanh và 528/1.086 thủ tục hành chính liên quan đến công dân, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu để giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành.
Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, kinh tế số Việt Nam có thể đạt mục tiêu 20% GDP vào năm 2025. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan, doanh nghiệp, người dân trong việc đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội
Kỳ vọng vào năm Rồng
Theo Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, năm 2024 là năm “Phát triển kinh tế số với 4 trụ cột công nghiệp công nghệ thông tin, số hóa các ngành kinh tế, quản trị số, dữ liệu số – Động lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững”.
Chỉ tiêu được đặt ra trong lĩnh vực kinh tế số năm 2024 với tổng doanh thu lĩnh vực kinh tế số nền tảng đạt 40 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế số nền tảng từ 20-25%. Tỷ lệ đóng góp của tổng các cấu phần kinh tế số vào GDP đạt từ 19%-20%. Tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt 7,5%.
Việt Nam đặt mục tiêu năm 2024, tỷ lệ đóng góp của tổng các cấu phần kinh tế số vào GDP đạt từ 19%-20%. (Ảnh minh họa)
Định hướng đến năm 2025, kinh tế số chiếm trên 20% GDP cả nước, tăng trưởng từ 20% – 25%/năm, gấp 3 lần tăng trưởng GDP. Tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%.
Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số của Việt Nam đã chính thức đặt ra những mục tiêu quan trọng nhằm thúc đẩy sự chuyển đổi số trong xã hội và kinh tế, đồng thời tạo ra cơ hội và thách thức mới. Chiến lược này đã xác định rõ những mục tiêu cụ thể đến năm 2024:
Phát triển Dữ liệu Số: Xây dựng Cơ sở Dữ liệu Quốc gia về người dân, doanh nghiệp, và đất đai, đạt 100% đối với mỗi lĩnh vực.
Phát triển Định danh Số: Đạt tỷ lệ 70% dân số sở hữu danh tính số, với mỗi danh tính phát sinh trung bình 100 lượt sử dụng mỗi năm.
Phát triển Thanh toán Số: Tỷ lệ người dân có tài khoản thanh toán điện tử đạt 80%, với 50% thanh toán thương mại điện tử không sử dụng tiền mặt. Tỷ lệ thanh toán hóa đơn điện, nước không sử dụng tiền mặt đạt 75%.
Thanh toán không sử dụng tiền mặt mang lại nhiều tiện ích. (Ảnh: Napas)
Phát triển Kỹ năng Số: Đào tạo kỹ năng số cho 70% công nhân tuyển dụng mới và đào tạo lại. Tỷ lệ nông dân được đào tạo về kỹ năng số cơ bản đạt tối thiểu 50%. 100% học sinh phổ thông và sinh viên được đào tạo kỹ năng số.
Phát triển Nhân lực Số: Tỷ lệ học sinh phổ thông tiếp cận STEM/STEAM đạt 70%. Đưa vào hoạt động 5 đại học số thí điểm. Tổng số nhân lực công nghệ số Việt Nam đạt 1,5 triệu người.
Việt Nam, với quy mô dân số lớn và sự thích ứng nhanh chóng của người dân với công nghệ mới, có cơ hội lớn để thúc đẩy kinh tế số và xã hội số theo lộ trình của chiến lược quốc gia. Đây sẽ đóng góp tích cực vào việc thực hiện mục tiêu đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/phat-trien-kinh-te-so-ky-vong-nam-2024-voi-nhieu-but-pha/feed/0Kiến tạo hạ tầng cho phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/kien-tao-ha-tang-cho-phat-trien-chinh-phu-so-kinh-te-so-xa-hoi-so/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=kien-tao-ha-tang-cho-phat-trien-chinh-phu-so-kinh-te-so-xa-hoi-so
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/kien-tao-ha-tang-cho-phat-trien-chinh-phu-so-kinh-te-so-xa-hoi-so/#respondTue, 26 Mar 2024 03:56:02 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2319Ngày 23/2, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội nghị “Công bố Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050″. Phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông – hạ tầng cho chuyển đổi số quốc gia, mở ra không gian phát triển mới cho kinh […]
]]>Ngày 23/2, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội nghị “Công bố Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050″.
Phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông – hạ tầng cho chuyển đổi số quốc gia, mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế – xã hội, gắn kết sự phát triển trên không gian số với không gian phát triển vật lý truyền thống, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Hội nghị Công bố Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Nhiều thành tựu đáng ghi nhận về hạ tầng thông tin và truyền thông
Mặc dù là một nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp nhưng Việt Nam có độ phủ sóng 4G cao hơn các nước phát triển có thu nhập cao.
Độ phủ 4G tại Việt Nam là 99,8%, các nước thu nhập cao có độ phủ là 99,4%. Đây là nỗ lực của ngành thông tin và truyền thông trong quá trình phổ cập hạ tầng viễn thông đặc biệt là chương trình sóng và máy tính cho em để bảo đảm việc học và làm việc trực tuyến, tỷ lệ này trước đây là 97%.
Trong số 7,3 tỷ người trên thế giới sử dụng điện thoại, tỷ lệ điện thoại thông minh là 63% thì tại Việt Nam, con số này là hơn 84%. Đây là nỗ lực của ngành thông tin và truyền thông hướng đến mục tiêu 100% người dùng có điện thoại thông minh vào cuối năm 2024.
Độ phủ cáp quang đến từng hộ gia đình gần 80% so với trung bình thế giới khoảng 60%. Kết quả này nhằm thực hiện mục tiêu chuyển đổi số toàn dân toàn diện, không bỏ ai lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.
Cước phí data tại Việt Nam được duy trì ở mức thấp, chỉ bằng một nửa mức trung bình của thế giới. Nhờ vậy mọi người dân đều có cơ hội để có thể sử dụng Internet, tiếp cận không gian số.
Lượng địa chỉ IPv4 thế hệ cũ đã dần cạn kiệt, không đủ cho người sử dụng và càng không đủ để phát triển kinh tế số. Các nước trên thế giới đều đang tăng tốc chuyển đổi sang IP thế hệ mới.
Đến nay, tỷ lệ sử dụng địa chỉ internet thế hệ mới IPv6 của Việt Nam đứng thứ 2 tại Asean và thứ 9 toàn cầu, xếp trên cả các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ hay Canada. Điều này giúp Việt Nam có cơ sở và tiềm năng để tăng tốc trong phát triển IoT và thúc đẩy nền kinh tế số.
Phát triển hạ tầng bưu chính nhằm gắn kết hạ tầng dữ liệu
Việt Nam đặt mục tiêu cao trong phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông, kiến tạo hạ tầng cho phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Hạ tầng thông tin và truyền thông là một chỉnh thể thống nhất trên cơ sở liên kết giữa mạng bưu chính, hạ tầng số, hạ tầng công nghiệp công nghệ thông tin, các nền tảng chuyển đổi số quốc gia và hệ thống bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh mạng.
Cụ thể, đến năm 2025, tổng năng lực khai thác phục vụ của mạng bưu chính đạt trên 93.000 tấn bưu gửi/ngày, thời gian giao hàng liên tỉnh và quốc tế (phần xử lý giữa các trung tâm) tối đa 5 ngày, thời gian giao hàng nội vùng tối đa 2 ngày. Hình thành 3 Trung tâm Bưu chính khu vực trên cả nước bảo đảm năng lực khai thác bình quân đạt trên 11.000 tấn bưu gửi/ngày, phạm vi phục vụ bình quân 350 km. Hình thành 14 Trung tâm Bưu chính vùng trên cả nước bảo đảm năng lực khai thác bình quân trên 4.500 tấn bưu gửi/ngày, phạm vi phục vụ bình quân 115 km.
Đến năm 2030, xây dựng 3-5 Trung tâm Bưu chính khu vực trên cả nước, năng lực khai thác bình quân của Trung tâm Bưu chính đạt trên 15.750 tấn bưu gửi/ngày. Các Trung tâm Bưu chính vùng có năng lực khai thác bình quân trên 5.000 tấn bưu gửi/ngày.
Xây dựng, phát triển hạ tầng bưu chính theo hướng bảo đảm tính gắn kết giữa hạ tầng mạng lưới, hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu để vận hành dòng chảy vật chất của nền kinh tế. Lấy nền tảng số làm giải pháp đột phá để thay đổi cấu trúc tăng trưởng; hình thành và phát triển hạ tầng dữ liệu bưu chính theo hướng cơ quan nhà nước quản lý dữ liệu, mở dữ liệu và cung cấp dữ liệu mở nhằm bảo đảm là cầu nối giữa thế giới thực và thế giới số, phục vụ công cuộc chuyển đổi số quốc gia, góp phần hình thành một Việt Nam số vào năm 2030.
Những mục tiêu trên nhằm phát triển bưu chính theo hướng mở rộng hệ sinh thái dịch vụ, mở rộng không gian hoạt động mới, bảo đảm mọi người dân trên cả nước đều có quyền được tiếp cận và sử dụng dịch vụ bưu chính ổn định, có chất lượng với giá cước hợp lý, chủ động tham gia cung ứng các dịch vụ hỗ trợ và thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Từ nay đến 2025, đầu tư thêm 2-4 tuyến cáp viễn thông quốc tế
Về hạ tầng số, đến năm 2025, mạng băng rộng cố định bảo đảm 100% số hộ gia đình có khả năng tiếp cận cáp quang khi có nhu cầu với 90% người sử dụng có thể truy nhập Internet cố định, tốc độ trung bình 200 Mb/s; 90% các tổ chức kinh tế – xã hội như doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, trường học, bệnh viện, công sở tại khu vực thành thị có thể truy nhập Internet với tốc độ trung bình 01 Gb/s.
Mạng băng rộng di động tốc độ tải xuống trung bình tối thiểu 40 Mb/s cho mạng 4G và 100 Mb/s cho mạng 5G; 100% dân số ở độ tuổi trưởng thành có điện thoại thông minh; 100% các khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung, trung tâm nghiên cứu, phát triển, đổi mới sáng tạo có thể truy nhập Internet với tốc độ tối thiểu 1Gb/s; 100% các cơ quan Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến cấp xã được kết nối vào Mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước; 100% hạ tầng thiết yếu như giao thông, năng lượng, điện, nước, đô thị có khả năng tích hợp cảm biến và ứng dụng IoT; 100% cơ quan thuộc Chính phủ dùng hệ sinh thái điện toán đám mây phục vụ Chính phủ số; 70% doanh nghiệp Việt Nam sử dụng dịch vụ điện toán đám mây do doanh nghiệp trong nước cung cấp.
Thực hiện triển khai, đầu tư thêm 2-4 tuyến cáp viễn thông quốc tế. Hình thành và triển khai các trung tâm dữ liệu quốc gia, tối thiểu 03 cụm trung tâm dữ liệu đa mục tiêu cấp quốc gia, các cụm trung tâm dữ liệu đa mục tiêu cấp vùng và 1-2 trung tâm dữ liệu khu vực phục vụ nhu cầu của các trung tâm tài chính Việt Nam và cho khu vực, quốc tế.
Đến năm 2030, hạ tầng mạng truy cập băng rộng cố định được đầu tư, nâng cấp bảo đảm 100% người sử dụng có khả năng truy nhập với tốc độ trên 1Gb/s. Mạng băng rộng di động 5G phủ sóng 99% dân số, hướng tới phát triển mạng di động tiên tiến thế hệ tiếp theo.
Phát triển thêm 4-6 tuyến cáp quang biển quốc tế. 100% cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và trên 50% người dân sử dụng các dịch vụ điện toán đám mây do doanh nghiệp trong nước cung cấp. Phát triển các cụm trung tâm dữ liệu quy mô lớn theo tiêu chuẩn xanh, kết nối và chia sẻ tạo thành mạng lưới các cụm trung tâm dữ liệu nhằm thúc đẩy công nghiệp dữ liệu lớn, trong đó hình thành tối thiểu 3 cụm trung tâm dữ liệu quốc gia theo quy định tại Nghị quyết số 175/NQ-CP ngày 30/10/2023 của Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Những mục tiêu trên nhằm hiện thực hóa định hướng hạ tầng số phải được xây dựng, phát triển để mỗi tổ chức, doanh nghiệp, người dân, hộ gia đình đều có kết nối internet băng rộng, được sử dụng dịch vụ lưu trữ trên nền tảng điện toán đám mây hiện đại và an toàn do doanh nghiệp trong nước cung cấp, làm chủ.
Bên cạnh đó, việc triển khai, đầu tư thêm tuyến cáp quang biển quốc tế nhằm đa dạng các hướng kết nối, cân bằng tải cho các tuyến cáp viễn thông trên biển hiện đang sử dụng, bảo đảm an toàn mạng lưới, tối ưu chất lượng dịch vụ, tiến tới làm trung gian trung chuyển lưu lượng internet cho các nước trong khu vực. Việc quy hoạch hạ tầng trung tâm dữ liệu phục vụ điện toán đám mây bảo đảm tính sẵn sàng, khả năng đáp ứng quy mô thị trường điện toán đám mây đạt 1% GDP Việt Nam vào năm 2050.
Về hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin, đến năm 2025, đạt và vượt các chỉ tiêu về ứng dụng công nghệ thông tin tại phần 1, mục II, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, các chỉ tiêu tại mục III, Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030” và các chỉ tiêu tại phần 1a, 2a, mục III, Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Đến năm 2030, các nền tảng số quy mô quốc gia được hoàn thiện, vận hành thông suốt đáp ứng được yêu cầu Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; Mọi người dân được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số tiên tiến với chất lượng cao, giá cước phù hợp.
Mục tiêu tập trung vào phát triển nền tảng số, coi đây là giải pháp đột phá để thúc đẩy chuyển đổi số nhanh hơn, giảm chi phí, tăng hiệu quả.
Việt Nam trở thành một trong những trung tâm bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh mạng hàng đầu châu Á
Về An toàn thông tin mạng, an ninh mạng cho Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, đến năm 2025, 100% hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước được bảo đảm an toàn theo cấp độ hệ thống thông tin; 100% bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện bảo đảm an toàn thông tin mạng theo mô hình 4 lớp; 100% thiết bị đầu cuối của các cơ quan nhà nước được cài đặt giải pháp bảo đảm an toàn thông tin mạng; 100% người sử dụng Internet được tiếp cận thông tin, tài liệu nâng cao nhận thức, kỹ năng và công cụ, dịch vụ an toàn thông tin mạng cơ bản.
Mỗi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có tối thiểu 1 đơn vị chuyên nghiệp bảo vệ an toàn thông tin mạng, mỗi người dân có tối thiểu 1 công cụ bảo vệ an toàn thông tin mạng.
Hệ sinh thái sản phẩm an toàn thông tin mạng Việt Nam đạt 100% chủng loại, phát triển từ 3-5 sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin trọng điểm, chiếm lĩnh thị trường trong nước, có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Đến năm 2030, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh mạng hàng đầu châu Á.Hình thành được thị trường về bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, có sự cạnh tranh và ảnh hưởng trên toàn khu vực và thế giới. Doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tận dụng các công nghệ nguồn mở để tự chủ công nghệ và phát triển, làm chủ thị trường an toàn thông tin mạng, an ninh mạng Việt Nam.
Theo đó, Việt Nam phải trở thành cường quốc an toàn không gian mạng để bảo vệ chủ quyền không gian mạng quốc gia, bảo đảm an ninh thông tin, trật tự an toàn xã hội. An toàn không gian mạng cho tất cả, không ai bị bỏ lại phía sau. Phát huy sức mạnh của toàn thể xã hội bảo đảm an toàn không gian mạng quốc gia. Mọi tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ bảo đảm an toàn môi trường sống mới – môi trường mạng, trong đó cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò điều phối, gắn kết, chia sẻ thông tin.
Về Công nghiệp công nghệ thông tin, đến năm 2025, hình thành và triển khai đề án, dự án 12-14 khu công nghệ thông tin tập trung và thành viên chuỗi khu công viên phần mềm.
Đến năm 2030, hình thành 16-20 khu công nghệ thông tin tập trung và thành viên chuỗi khu công viên phần mềm.
Theo đó, phát triển ngành công nghiệp công nghệ số Việt Nam theo tinh thần kết hợp tự cường và hợp tác quốc tế: Thiết kế, tích hợp, làm chủ công nghệ, sáng tạo công nghệ, từ thị trường Việt Nam nhưng luôn hướng vào thị trường toàn cầu, góp phần đưa Việt Nam thành quốc gia phát triển về công nghệ số và bằng công nghệ số.
Hạ tầng thông tin và truyền thông đặt trong sự liên kết, đồng bộ nội ngành và liên ngành để có thể trở thành hạ tầng của hạ tầng, nền tảng cho sự phát triển của các ngành, lĩnh vực
Quy hoạch đã định hướng giải quyết các vấn đề liên quan đến sự liên kết, tính đồng bộ nội ngành và liên ngành và thúc đẩy phát triển các khu vực khó khăn, phát huy lợi thế vùng trên cả nước: Mạng bưu chính liên kết với hạ tầng giao thông, logistics.
Hệ thống truyền dẫn trục quốc gia chuyển dịch từ tập trung phát triển theo trục Bắc-Nam sang mở rộng phát triển theo trục Đông-Tây (quy hoạch tuyến cáp quang theo quy hoạch giao thông kết nối liên vùng, liên Á trên các hành lang kinh tế Đông – Tây).
Quy hoạch trung tâm dữ liệu đồng bộ, liên kết với quy hoạch năng lượng, giao thông, giáo dục; Quy hoạch Digital Hub đồng bộ với quy hoạch các khu vực kinh tế, khu vực trung tâm tài chính quốc tế: Digital Hub gắn với địa bàn thí điểm cơ chế đặc khu chính sách với định hướng trung tâm dữ liệu khu vực và quốc tế.
Quy hoạch các khu công nghệ thông tin tập trung theo hướng hình thành các cụm liên kết ngành, nhóm sản phẩm chuyên môn hóa, hiệu quả cao và theo lợi thế của các địa phương, vùng, địa bàn trọng điểm bảo đảm sự phát triển bền vững của môi trường, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh đồng thời bảo đảm việc sử dụng tài nguyên đất hiệu quả, đúng mục tiêu…).
Hạ tầng thông tin và truyền thông hướng đến các giải pháp về bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ thúc đẩy phát triển các khu vực khó khăn, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền, phát huy lợi thế vùng trên cả nước
Hạ tầng thông tin và truyền thông là hạ tầng cho chuyển đổi số quốc gia, mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế – xã hội, được xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược, cần ưu tiên đầu tư bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với an sinh xã hội:
Hỗ trợ kinh phí từ quỹ dịch vụ viễn thông công ích cho các hộ nghèo, cận nghèo, các hộ dân thuộc vùng khó khăn và các đối tượng chính sách xã hội khác có kết nối băng rộng, điện thoại thông minh. Hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp triển khai hạ tầng số tại khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Cải thiện mức độ dễ dàng sử dụng của mạng lưới thông tin và truyền thông ở các vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa.
Ưu tiên sử dụng hệ thống vệ tinh phủ sóng cho vùng sâu, vùng biên giới, biển, đảo, khu vực chưa được phủ sóng vi ba, cáp quang và di động băng rộng, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ phòng, chống thảm hoạ, thiên tai, bão lũ, bảo đảm thông tin liên lạc cho cơ quan Đảng, Nhà nước và an ninh, quốc phòng.
Thúc đẩy việc triển khai chương trình “Mỗi hộ gia đình một đường cáp quang”; trình “Mỗi người dân một máy smartphone”. Hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình có phạm vi phủ sóng toàn quốc, các vùng biển, đảo Việt Nam và quốc tế.
Quy hoạch theo hướng tăng số lượng các trung tâm bưu chính để giảm thời gian cung ứng dịch vụ đến khu vực vùng sâu vùng xa, thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử
Hệ thống đường trục quốc gia chuyển dịch kiến trúc mạng truyền dẫn từ trục Bắc-Nam sang mở rộng theo trục Đông-Tây, tạo động lực cho các khu vực khó khăn.
Ưu tiên sử dụng công nghệ số, nền tảng số trong ứng phó với các tình huống khẩn cấp như sức khỏe cộng đồng, thiên tai, tai nạn, thảm họa và an sinh xã hội, nâng cao toàn diện khả năng cảnh báo sớm và ứng phó khẩn cấp.
Phát triển các hệ thống kỹ thuật mang tính nền tảng nhằm phục vụ hoạt động bảo đảm an toàn cho người dân, tạo lập niềm tin số và phổ cập dịch vụ an toàn thông tin cơ bản cho người dân trên môi trường mạng.
Nhiều giải pháp trọng tâm cần triển khai để đạt mục tiêu quy hoạch
Quy hoạch cũng đề xuất các giải pháp thực hiện Quy hoạch, trong đó bao gồm một số giải pháp đột phá như:
Dừng triển khai công nghệ viễn thông di động thế hệ cũ theo lộ trình để chuyển đổi việc sử dụng các băng tần cho công nghệ mới, đồng thời quy hoạch bổ sung băng tần mới để phát triển các công nghệ di động thế hệ mới 4G, 5G và các thế hệ tiếp theo. Từ năm 2025 tập trung phát triển mạng thông tin di động thế hệ thứ 5 (5G).
Phân bổ tài nguyên viễn thông (tần số, kho số, tên miền,…) theo cơ chế thị trường đủ để bảo đảm cung cấp chất lượng dịch vụ viễn thông ngang tầm khu vực và thế giới.
Chính sách cho phép trung tâm dữ liệu được áp dụng cơ chế mua điện trực tiếp tại nguồn, cho phép các trung tâm dữ liệu khu vực (Digital Hub) được áp dụng các cơ chế đặc thù, ưu tiên đặt tại các trung tâm tài chính khu vực và quốc tế của Việt Nam.
Ban hành chính sách khuyến khích và bắt buộc sử dụng các nền tảng số quốc gia dùng chung, thúc đẩy việc kết nối, liên thông dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng, tiết kiệm nguồn lực xã hội.
Xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm nhằm phát triển các sản phẩm trọng điểm Make in Viet Nam phục vụ Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, chuyển đổi số, sản xuất thông minh, nông nghiệp thông minh…
Triển khai quy hoạch là trách nhiệm của các ngành, lĩnh vực
Tại Quyết định số 36/QĐ-TTg ngày 11/01/2024, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ TT&TT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương quản lý và tổ chức thực hiện “Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Để Quy hoạch được triển khai theo đúng tầm nhìn và định hướng đã đề ra, Bộ Thông tin và Truyền thông đã dự thảo Kế hoạch triển khai thực hiện Quy hoạch này và đang gửi xin ý kiến góp ý của các đơn vị, dự kiến sẽ trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành trong thời gian tới để làm sở cứ triển khai Quy hoạch.
Các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình bố trí nguồn lực, đề xuất các cơ chế chính sách để thực hiện hiệu quả các mục tiêu của quy hoạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030, các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành và địa phương. Chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp đặc biệt các doanh nghiệp có vốn nhà nước xây dựng các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, bố trí nguồn vốn để thực hiện Quy hoạch này.
Các địa phương xây dựng và triển khai các quy hoạch, kế hoạch, các dự án trên địa bàn địa phương bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Quy hoạch; tăng cường sử dụng chung cơ sở hạ tầng liên ngành, quản lý chặt chẽ quỹ đất phục vụ triển khai quy hoạch.
Các tập đoàn, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, quy hoạch phát triển của mình phù hợp với Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Đầu tư, nâng cấp và mở rộng hạ tầng thông tin và truyền thông để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong đó tập trung vào những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của Quy hoạch như: hình thành các trung tâm bưu chính khu và trung tâm bưu chính vùng, các cụm trung tâm dữ liệu đa mục tiêu cấp quốc gia, các cụm trung tâm dữ liệu đa mục tiêu cấp vùng và trung tâm dữ liệu khu vực, triển khai, đầu tư thêm các tuyến cáp viễn thông quốc tế, hình thành và triển khai đề án, dự án khu công nghệ thông tin tập trung và thành viên chuỗi khu công viên phần mềm…
Đại diện Bộ Thông tin và Truyền thông khẳng định, việc triển khai Quy hoạch thành công sẽ kiến tạo động lực, không gian phát triển cho lĩnh vực thông tin và truyền thông nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của ngành, đất nước để phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bao trùm và bền vững.
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2024/03/kien-tao-ha-tang-cho-phat-trien-chinh-phu-so-kinh-te-so-xa-hoi-so/feed/0Thủ tướng: Văn hóa số là một phần quan trọng của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2023/08/thu-tuong-van-hoa-so-la-mot-phan-quan-trong-cua-nen-van-hoa-dam-da-ban-sac-dan-toc-viet-nam/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=thu-tuong-van-hoa-so-la-mot-phan-quan-trong-cua-nen-van-hoa-dam-da-ban-sac-dan-toc-viet-nam
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2023/08/thu-tuong-van-hoa-so-la-mot-phan-quan-trong-cua-nen-van-hoa-dam-da-ban-sac-dan-toc-viet-nam/#respondSat, 26 Aug 2023 07:08:46 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=2335Thủ tướng nêu rõ: Xây dựng, phát triển hệ sinh thái công dân số phải là một nền tảng quan trọng của chuyển đổi số quốc gia. Kinh tế số là động lực quan trọng phát triển kinh tế Việt Nam. Xã hội số là một trong những nền tảng của xã hội Việt Nam. […]
]]>Thủ tướng nêu rõ: Xây dựng, phát triển hệ sinh thái công dân số phải là một nền tảng quan trọng của chuyển đổi số quốc gia. Kinh tế số là động lực quan trọng phát triển kinh tế Việt Nam. Xã hội số là một trong những nền tảng của xã hội Việt Nam. Văn hóa số là một phần quan trọng của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Chiều 12/7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 6 tháng đầu năm 2023 về chuyển đổi số quốc gia và Đề án phát triển dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).
Nếu người đứng đầu vào cuộc chỉ đạo quyết liệt thì ở phía dưới có sự chuyển động mạnh mẽ
Phát biểu kết luận Hội nghị, Thủ tướng biểu dương những nỗ lực, cố gắng và kết quả đạt được của các bộ, ngành, địa phương; sự chỉ đạo quyết liệt của các thành viên Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số; vai trò nòng cốt của lực lượng công an nhân dân trong triển khai Đề án 06; sự đồng lòng, ủng hộ, tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp.
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu kết luận Hội nghị
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Thủ tướng nêu rõ, những kết quả tích cực này mới chỉ là bước đầu và chúng ta vẫn chưa hài lòng, còn nhiều tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc. Nhiều lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương chưa coi chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực cho chuyển đổi số. Nhiều chỉ tiêu chưa có thông tin để đánh giá; trong các chỉ tiêu có thông tin đánh giá cũng có một số chỉ tiêu khó hoàn thành. Tốc độ mạng băng rộng cố định, di động vẫn là mức trung bình khá.
Chất lượng dịch vụ công trực tuyến (theo tiêu chí đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn, an ninh) còn thấp, chưa đạt kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp. Tính liên thông, chia sẻ, đồng bộ giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia còn thấp.
Nền tảng xã hội số, thương mại điện tử còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tự chủ trong chuyển đổi số quốc gia. Nhân lực cho chuyển đổi số còn chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng, chất lượng, phân bổ chưa đồng đều. An toàn, an ninh mạng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Thủ tướng nhấn mạnh một số nguyên nhân và bài học, mà trước hết là vai trò của người đứng đầu, nếu người đứng đầu vào cuộc chỉ đạo quyết liệt thì ở phía dưới có sự chuyển động mạnh mẽ; phát triển hạ tầng phải đồng bộ, toàn diện, liên thông, nhanh chóng hiện đại hóa hạ tầng số; tạo động lực, cảm hứng để người dân và doanh nghiệp tham gia tích cực hơn vào chuyển đổi số.
Văn hóa số là một phần quan trọng của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Nhằm phát huy kết quả đã đạt được, những kinh nghiệm quý, bài học hay, đồng thời khắc phục tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc để triển khai thành công Đề án 06, Thủ tướng nhấn mạnh một số quan điểm chỉ đạo.
Theo đó, phải xác định chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan và được xác định là nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước, cần được tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, vượt qua rào cản, khó khăn, thách thức, tạo đột phá hơn nữa với quan điểm toàn dân, toàn diện, tổng thể, không để ai bị bỏ lại phía sau nhưng phải có ưu tiên. Thủ tướng nêu rõ 4 ưu tiên gồm: Ưu phát triển dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” (dữ liệu là tài nguyên), ưu tiên phát triển các dịch vụ công trực tuyến gắn với đời sống người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có đối tượng bao phủ lớn; ưu tiên phát triển các nền tảng (nhất là các cơ sở dữ liệu quốc gia); ưu tiên bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin.
Thủ tướng nêu rõ: Xây dựng, phát triển hệ sinh thái công dân số phải là một nền tảng quan trọng của chuyển đổi số quốc gia. Kinh tế số là động lực quan trọng phát triển kinh tế Việt Nam. Xã hội số là một trong những nền tảng của xã hội Việt Nam. Văn hóa số là một phần quan trọng của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Thủ tướng chủ trì hội nghị toàn quốc về chuyển đổi số quốc gia
Cùng với đó, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, làm mục tiêu, động lực, nhằm phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp. Có tầm nhìn chiến lược và liên tục đổi mới từ tư duy, nhận thức, hành động cho phù hợp điều kiện thực tiễn; phát triển từ quy mô cấp tỉnh, vùng, quốc gia sang quy mô quốc tế gắn với đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Huy động mọi nguồn lực, sự tham gia của cả hệ thống chính trị, người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Tổ chức triển khai chuyển đổi số quốc gia tại từng bộ, ngành, địa phương phải đi vào thực chất, mang lại giá trị thiết thực cho chính quyền, người dân, doanh nghiệp gắn với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp.
Các cơ sở dữ liệu quốc gia là nguồn tài nguyên mới và là nền tảng quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia nên phải có tính liên kết, liên thông, chia sẻ cao giữa các bộ, ngành, địa phương, giữa các cấp chính quyền, giữa công và tư. Việc hình thành Trung tâm dữ liệu quốc gia do Bộ Công an chủ trì xây dựng là một giải pháp quan trọng thúc đẩy hình thành, kết nối, chia sẻ các cơ sở dữ liệu quốc gia trong tương lai.
Đề án 06 là một nhiệm vụ then chốt, quan trọng của chuyển đổi số quốc gia; cần huy động mọi nguồn lực, sự tham gia của cả hệ thống chính trị, người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát việc triển khai CSDLQG về dân cư. Đẩy mạnh triển khai một số cơ chế thí điểm, thử nghiệm quan trọng để mở rộng trong thời gian tới. Phát huy tinh thần chủ động, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Đẩy mạnh sử dụng, phát triển nền tảng định danh điện tử VneID
Thủ tướng nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, mà trước hết là phải quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, tạo bước đột phá mạnh mẽ trong thực hiện chuyển đổi số quốc gia và triển khai Đề án 06, với quan điểm “chuyển đổi số quốc gia là công việc rất lớn, rất chiến lược, nhưng phải bắt đầu bằng những hành động cụ thể, mục tiêu cụ thể, làm việc nào dứt điểm việc đó, không thể chung chung được”.
Các Bộ trưởng, Trưởng ngành, Bí thư, Chủ tịch UBND các cấp phải chỉ đạo quyết liệt hơn nữa, nỗ lực hơn nữa, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện.
Thủ tướng cũng yêu cầu tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách cho chuyển đổi số quốc gia nói chung và Đề án 06 nói riêng với phương châm một văn bản điều chỉnh nhiều văn bản, áp dụng quy trình rút gọn. Thể chế phải đi trước một bước để thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia nhanh hơn, bền vững hơn.
Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Bộ VHTTDL
Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến tạo thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp, chuyển từ thụ động sang chủ động. Tổ chức triển khai 02 dịch vụ công liên thông Đăng ký khai sinh-đăng ký thường trú-cấp thẻ BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi và Đăng ký khai tử-xóa đăng ký thường trú-trợ cấp mai táng phí trên địa bàn toàn quốc với tinh thần vừa làm, vừa hoàn thiện, nâng cấp.
Đẩy mạnh ứng dụng, triển khai các nền tảng số, CSDL chuyên ngành gắn với CSDL quốc gia về dân cư trong thanh toán không dùng tiền mặt, thương mại điện tử…; sớm hoàn thành xây dựng CSDL quốc gia về công chức, viên chức để chính thức đưa vào hoạt động vào cuối năm 2023; sớm triển khai CSDL về an sinh xã hội để nắm bắt tình hình người lao động bị mất việc làm, người đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm…; triển khai công nghệ xác thực sinh trắc học trên thẻ căn cước công dân gắn chip tại các cơ sở khám chữa bệnh để rút ngắn quá trình làm thủ tục; phục vụ hành khách làm thủ tục đi tàu bay tại các sân bay trên các tuyến nội địa…
Thủ tướng cũng yêu cầu đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương nhằm tạo ra những giá trị mới. Bộ Công an khẩn trương nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Trung tâm dữ liệu quốc gia để tổ chức triển khai đi vào thực hiện cuối năm 2024. Sớm nghiên cứu và xây dựng Trung tâm điều phối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (để chuyên xử lý dữ liệu, đối soát dữ liệu, làm sạch, làm giàu dữ liệu; xác thực dữ liệu; tra cứu dữ liệu; tích hợp và chia sẻ dữ liệu; triển khai phục vụ tiện ích cho người dân, doanh nghiệp; tổng đài giải đáp thông tin, giải đáp phản ánh, kiến nghị…)
Đẩy mạnh bảo đảm an ninh, an toàn các hệ thống thông tin, CSDL, bảo vệ dữ liệu cá nhân; huy động nguồn lực cho chuyển đổi số quốc gia và triển khai Đề án 06; tăng cường hợp tác quốc tế, nghiên cứu tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm các nước trên thế giới về chuyển đổi số; đẩy mạnh truyền thông tạo đồng thuận xã hội.
]]>https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2023/08/thu-tuong-van-hoa-so-la-mot-phan-quan-trong-cua-nen-van-hoa-dam-da-ban-sac-dan-toc-viet-nam/feed/0Hội Truyền thông số Việt Nam ra mắt Hội đồng cố vấn
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2023/06/hoi-truyen-thong-so-viet-nam-ra-mat-hoi-dong-co-van/?utm_source=rss&utm_medium=rss&utm_campaign=hoi-truyen-thong-so-viet-nam-ra-mat-hoi-dong-co-van
https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/2023/06/hoi-truyen-thong-so-viet-nam-ra-mat-hoi-dong-co-van/#respondSun, 25 Jun 2023 05:20:00 +0000https://dauantrithucvadoanhnhan.vn/?p=3004Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Huy Dũng tặng hoa cho Hội đồng cố vấn VDCA Phát biểu tại Lễ ra mắt Hội đồng cố vấn, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cho biết, sau Đại hội nhiệm kỳ III, Ban thường vụ VDCA đã […]
Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Huy Dũng tặng hoa cho Hội đồng cố vấn VDCA
Phát biểu tại Lễ ra mắt Hội đồng cố vấn, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cho biết, sau Đại hội nhiệm kỳ III, Ban thường vụ VDCA đã nhận thấy cần bổ sung quy chế hoạt động, mời thêm cố vấn là các vị lãnh đạo lão thành trong ngành để giúp Hội về đường hướng hoạt động, đưa Hội phát triển ngày một vững mạnh hơn. Đó là lý do hôm nay VDCA tổ chức Lễ ra mắt và phiên họp thứ nhất của Hội đồng cố vấn.
Hội đồng cố vấn gồm GS.TSKH Đỗ Trung Tá – nguyên Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông; TS Lê Doãn Hợp – nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; TS Nguyễn Quân – Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; TS Thang Văn Phúc – nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; ông Đỗ Quý Doãn – nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; TS Nguyễn Sĩ Dũng – nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội; ông Nguyễn Anh Tuấn – Giám đốc Diễn đàn toàn cầu Boston, nguyên Tổng biên tập VietnamNet.
GS.TSKH Đỗ Trung Tá giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng cố vấn và TS Nguyễn Sĩ Dũng đảm nhiệm vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng.
Ông Nguyễn Minh Hồng giới thiệu các thành viên Hội đồng tư vấn của VDCA
Hội đồng cố vấn VDCA thực hiện hoạt động đóng góp ý kiến, đánh giá và gợi mở những vấn đề đặt ra trong công tác lãnh đạo, điều hành của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Chủ tịch VDCA theo quy định của Điều lệ Hội và pháp luật.
Các vị lãnh đạo lão thành trong Hội đồng cố vấn sẽ tư vấn cho Chủ tịch Hội, Ban Thường vụ Hội triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội và vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội; Tham gia tư vấn các nhiệm vụ được cấp phép của các đơn vị trực thuộc Hội theo quy định của pháp luật; Tham dự với tư cách khách mời một số cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ VDCA.
Thay mặt Hội đồng, GS.TSKH Đỗ Trung Tá cảm ơn Ban lãnh đạo VDCA đã tín nhiệm mời làm cố vấn. Ông hứ sẽ cùng các thành viên hội đồng đoàn kết, đưa Hội truyền thông số ngày càng phát triển lớn mạnh.
GS.TSKH Đỗ Trung Tá – Chủ tịch Hội đồng cố vấn
Thay mặt Hội Truyền thông số Việt Nam, ông Vũ Kiêm Văn – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VDCA đã báo cáo Hội đồng cố vấn các hoạt động của VDCA trong thời gian qua và định hướng trong thời gian tới. Hội ra đời từ năm 2011, đến nay đã hoạt động được 12 năm. Về tổ chức, Ban lãnh đạo Hội gồm 12 người, Ban thường vụ gồm 28 người và Ban chấp hành có 86 người. Hội đã kết nạp được 550 thành viên (phía Bắc là 470 và phía Nam là 80).
Báo cáo về nhiệm vụ trọng tâm của VDCA trong năm 2023, ông Vũ Kiêm Văn cho biết Hội đặt mục tiêu phát triển thêm 500 hội viên doanh nghiệp, tổ chức khoảng 30 chương trình Techtour nhằm gắn kết hoạt động của các doanh nghiệp hội viên. Hội đã và đang tiếp tục cải tiến, nâng cấp trang thông tin điện tử và các kênh truyền thông của Hội.
Ông Vũ Kiêm Văn báo cáo công tác và định hướng của VDCA trong năm 2023
Trong năm 2023, VDCA sẽ tiếp tục chủ trì tổ chức chương trình thường niên Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam. Đây là năm thứ 6 chương trình được tổ chức và là một trong những chương trình quy mô cấp quốc gia, thu hút được hơn 13.000 doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tham gia, vinh danh gần 350 cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc và các sản phẩm, giải pháp chuyển đổi số tiêu biểu.
Ngoài ra, VDCA sẽ lần đầu tiên tổ chức Diễn đàn – Triển lãm sáng tạo nội dung số và trao giải thưởng thường niên cho các nhà sáng tạo nội dung số; Tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Đô thị thông minh 2023; phối hợp với đối tác Singapore tổ chức Hội thảo Kết nối doanh nghiệp Việt Nam tại Singapore vào tháng 11 tới; Phối hợp với Cục Chuyển đổi số quốc gia đánh giá chỉ số chuyển đổi số các Bộ, các tỉnh.
Nhà báo Lê Thọ Bình, Phó Tổng biên tập phụ trách Tạp chí điện tử VietTimes, Chủ nhiệm CLB Cà phê số đã báo cáo Hội đồng cố vấn về hoạt động của VietTimes và Câu lạc bộ. Về VietTimes, Ban biên tập đã tái cấu trúc chuyên mục theo hướng tập trung mạnh vào các tin bài về chuyển đổi số, dữ liệu doanh nghiệp công nghệ và tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các kênh social. Đối với CLB Cà phê số, năm qua đã tổ chức được nhiều chuyên đề thảo luận hữu ích như vấn đề thiếu điện, cải cách sách giáo khoa… Trong năm 2023 và những năm tới, CLB sẽ tiếp tục khai thác các đề tài nóng trong xã hội và mời thành viên Hội đồng cố vấn tham dự.
Nhà báo Lê Thọ Bình báo cáo về hoạt động của Tạp chí VietTimes và CLB Cà phê số
Tại sự kiện, các thành viên của Hội đồng cố vấn đã thảo luận tích cực về đường hướng hoạt động của Hội. Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, Hội cần đóng vai trò dẫn đầu trong việc tư vấn chính sách cho các cơ quan quản lý nhà nước về Trí tuệ nhân tạo – một lĩnh vực phát triển nóng và rất khó lường trong thời gian gần đây. Nếu như với các công nghệ như nguyên tử, hạt nhân thì con người đóng vai trò quyết định sử dụng nó như thế nào, thì đối với trí tuệ nhân tạo – chúng ta lại đang phát triển một công nghệ tự quyết định. Thế giới đang thảo luận về thời điểm mà trí tuệ nhân tạo sẽ vượt qua trí tuệ loài người, trước đây cho là năm 2045 nhưng với sự xuất hiện của ChatGPT thì được cho là sớm hơn. Ông Nguyễn Sĩ Dũng nói rằng Việt Nam chưa có một chiến lược rõ ràng nào về vấn đề này. VDCA cần lên tiếng để nhà nước có hoạch định chính sách một cách kịp thời.
Ông Nguyễn Sĩ Dũng nêu vấn đề quản lý việc phát triển Trí tuệ nhân tạo
Cũng về vấn đề phát triển Trí tuệ nhân tạo, ông Nguyễn Anh Tuấn – Giám đốc Diễn đàn toàn cầu Boston nhận định đây không phải là câu chuyện của riêng một tổ chức, một quốc gia, mà là sứ mệnh của mọi người, mọi quốc gia trên thế giới. “Mỗi cá nhân cần phải tập hợp tiếng nói để Trí tuệ nhân tạo được phát triển theo một cách đúng đắn. Hiện tại, thế giới đang có “Liên minh toàn cầu về quản trị số”, tích hợp tất cả nguồn lực, sức mạnh của nhiều cá nhân, tổ chức để tạo ra một chuẩn mực, đạo đức về công nghệ, nhằm yêu cầu các chính phủ trên thế giới tuân thủ theo”, ông Tuấn cho biết.
Ông Nguyễn Anh Tuấn nói rằng không phải Việt Nam chúng ta chưa có nhận thức gì về trí tuệ nhân tạo. Thực tế là đã có nhiều hội thảo, tọa đàm về AI được tổ chức, nhưng kết quả triển khai thực tế chưa nhiều. Ông Tuấn chia sẻ VDCA nên nêu những giải pháp, bước đi cho Việt Nam thay vì chỉ đưa ra các cảnh báo. Diễn đàn toàn cầu Boston có thể phối hợp với VDCA để cùng suy nghĩ, đưa ra các giải pháp cho Việt Nam và mở rộng ra thế giới. Tại hội nghị G20 được tổ chức tại Ấn Độ vào tháng 7 tới, ông Tuấn sẽ tham dự với tư cách một diễn giả đối thoại với Thủ tướng Ấn Độ. Ông hứa sẽ thay mặt VDCA gợi ý các chính sách đối với vấn đề phát triển Trí tuệ nhân tạo.
Đồng tình với ý kiến của ông Nguyễn Sĩ Dũng về Trí tuệ nhân tạo, ông Nguyễn Quân – nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng về mặt công nghệ thì Trí tuệ nhân tạo không có gì đáng bàn, nhưng trong quản lý điều hành xã hội nó mới là vấn đề lớn. “Nếu không theo kịp được sự phát triển của Trí tuệ nhân tạo, không quản lý được nó, thì sẽ tạo ra nhiều hiểm họa và hệ lụy cho xã hội”, ông Nguyễn Quân nói.
Ông Nguyễn Quân nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông trong việc tuyên truyền để những người quản lý, lãnh đạo của quốc gia hiểu được vấn đề đó; cố gắng theo kịp sự phát triển của công nghệ để quản lý xã hội tốt hơn.
Ông Nguyễn Quân nêu ý kiến về 2 vấn đề lưu ý của VDCA
Ông Nguyễn Quân cũng nêu ra 2 vấn đề mà VDCA cần chú ý trong kế hoạch năm 2023. Thứ nhất là có nên tổ chức giải thưởng dành cho các nhà sáng tạo nội dung số, hay nên tích hợp vào trong Giải thưởng Chuyển đổi số thường niên. Thứ hai là VDCA cần làm sâu sắc hơn mảng nghiên cứu khoa học bên cạnh công việc phản biện chính sách. Hiện tại VDCA đang có 3 Viện trực thuộc là Viện Nghiên cứu chính sách và Phát triển truyền thông, Viện Chiến lược Chuyển đổi số, Viện Kinh tế số. Ông Quân cho rằng VDCA cần đặt hàng, đưa đề bài để các Viện có thể thực hiện tốt hơn công tác nghiên cứu khoa học.
Ông Đỗ Quý Doãn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông lại nêu lên thực trạng khó khăn khi thực hiện các dịch vụ công , sự chưa đồng bộ, liên thông giữa các đơn vị trong giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến và ngoại tuyến. Ông cho rằng VDCA nên có những đóng góp ý kiến cho cơ quan quản lý để cải thiện tình trạng này. Ngoài ra, ông Đỗ Quý Doãn cũng cho rằng, Hội Truyền thông số cũng nên có phản biện chính sách để hỗ trợ các cơ quan báo chí, truyền thông hoạt động tốt hơn trong giai đoạn hiện nay trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của mạng xã hội.
Nêu lên 3 vấn đề mà Hội Truyền thông số cần tích cực đóng góp ý kiến phản biện với các cơ quan quản lý, ông Lê Doãn Hợp, nguyên Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam nhiệm kỳ 1, đã chỉ rõ, đó là phát triển kinh tế gắn với văn hóa, môi trường, và ứng dụng công nghệ số/chuyển đổi số. Việc ứng dụng công nghệ sẽ giúp minh bạch, giảm tiêu cực trong nhiều khâu, nhiều lĩnh vực. Đồng thời, ông Lê Doãn Hợp cũng cho rằng nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ nhiều hơn nữa cho các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn hiện tại, và VDCA sẽ phải góp tiếng nói cho quá trình này.
Ông Lê Doãn Hợp cho rằng nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ nhiều hơn nữa cho các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn hiện tại
Tham dự lễ ra mắt Hội đồng cố vấn VDCA, ông Nguyễn Huy Dũng – Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết Bộ đang hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện các chương trình chuyển đổi số. Các dự án của Bộ được thực hiện theo hướng đi từ các ứng dụng phục vụ thực tiễn, rồi làm chủ từng bước công nghệ. Thứ trưởng cũng nhờ các vị lãnh đạo lão thành trong ngành đóng góp ý kiến để Bộ có thể làm tốt hơn công tác chuyển đối số, góp phần phát triển nền kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam.
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng phát biểu về thực trạng chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông
Ông Thang Văn Phúc – thành viên Hội đồng cố vấn, cho rằng mặc dù Việt Nam đã nhận thức được rất sớm vấn đề ứng dụng CNTT trong các hoạt động của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, nhưng tính hiệu quả hoạt động này chưa thực sự tốt. Ông Phúc thẳng thắn cho rằng Việt Nam vẫn ở giai đoạn 0.4 chứ chưa phải là 4.0 (công nghiệp 4.0 – PV).
Ông Thang Văn Phúc nhận xét về ứng dụng CNTT tại các cơ quan, tổ chức
Về hoạt động trọng tâm của Hội Truyền thông số Việt Nam trong năm 2023, trong báo cáo của Hội có nêu 8 công việc sẽ thực hiện, trong đó có tư vấn phản biện chính sách, ông Thang Văn Phúc cho rằng đây chính là điều mà Hội Truyền thông số nên nỗ lực và thực hiện thường xuyên hơn nữa. Ông mong Hội làm tốt chức năng, sứ mệnh của mình trong thời kỳ chuyển đổi số đầy thách thức những cũng không ít cơ hội này.
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng và lãnh đạo VDCA, lãnh đạo Hội đồng cố vấn bấm nút ra mắt phiên bản mới của trang thông tin điện tử của VDCA
Hội đồng cố vấn VDCA sẽ họp định kỳ 6 tháng một lần hoặc họp đột xuất theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng, hoặc theo đề nghị của đa số thành viên Hội đồng để giải quyết các vấn đề do Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam đề nghị./.
Hội đồng cố vấn chụp ảnh lưu niệm với các thành viên Ban lãnh đạo Hội Truyền thông số Việt Nam
Một số hình ảnh tại sự kiện
Ông Thang Văn Phúc – nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, thành viên Hội đồng cố vấn VDCAÔng Đinh Văn Hải – Phó Chủ tịch VDCAÔng Đặng Vũ Tuấn – Phó Chủ tịch VDCAÔng Bùi Sĩ Hoa – Phó Chủ tịch VDCA